Cây có cội mới có cành xanh tốt
Nước có nguồn mới có biển rộng sông sâu
Con người ta sinh ra từ đâu
Có tiên tổ mới có con hồng cháu lạc
Gia phả là lịch sử của dòng họ, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, ghi lại quá trình thăng trầm của họ tộc để nhắn nhủ, giáo dục các thế hệ con cháu phát huy truyền thống tổ tiên.
Cây có cội – nước có nguồn

Đại tộc họ Lê có từ rất lâu đời trên đất nước Việt Nam, gắn liền với lịch sử các triều đại nhà Lê. Qua chiến tranh và những cuộc tranh giành giữa các triều đại, nhiều người bị phiêu bạt, lưu lạc; năm tháng làm phai mờ nguồn gốc, họ chia tách thành các nhánh, chi nhánh dòng tộc mới. Dòng tộc họ Lê Văn làng Thiện Nộ, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Cẩm Xuyên) cũng là một dòng tộc mới nằm trong bối cảnh ấy.
Sự ra đời của dòng tộc (1710)

Cuối năm Canh Dần 1710, đầu thế kỷ XVIII, thời Trịnh – Nguyễn phân tranh dưới triều vua Lê Hiển Tông. Ông Lê Văn Phu, người quận Châu Hoan (Nghệ An ngày nay), đi lính cho nhà Lê, lĩnh binh trấn ải phía nam Đèo Ngang. Trong một trận binh biến, ông bị thất lạc vào rừng; sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, ông đến một vùng đồi hoang vu, thấy vài túp lều tranh của dân bản xứ. Được người bản xứ giúp đỡ, thấy đất đai đồi bãi rộng bao la, ông xin ở lại sinh cơ lập nghiệp.
Về sau ông mới biết nơi đây là xứ Cồn Gáy – khu vực Nương Hoang đền Thánh, Miếu Ông, thuộc thôn 1, 2, 4 xã Cẩm Quan cũ, nay là thôn Thiện Nộ, xã Cẩm Xuyên. Ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Nhu, người con gái bản xứ, sinh hạ con trai Lê Văn Minh và con gái Lê Thị Hoa. Dòng họ Lê Văn làng Thiện Nộ có từ đó.
Thời kỳ khó khăn và thử thách (1710 – 1845)

Chín đời đầu, dòng họ chỉ có một nhánh một đinh. Các cụ lam lũ, cần cù làm ăn; từ đời thứ ba trở đi, đời sống khá giả dần, con cháu được học hành, nhiều đời làm Chánh xã, Lý trưởng, Hương kiểm, Tổng lý. Đời thứ tư có bà cô Lê Thị Quỳnh Hoa – người con gái thông minh, đoan hậu, mất khi chưa tròn 20 tuổi; họ tộc lấy ngày giỗ bà, mùng 5 tháng 2 âm lịch, làm ngày giỗ tổ.
Đời thứ tám có ông Lê Văn Phúc, người đầu tiên trong dòng tộc đỗ tú tài toàn phần. Ngoài 20 tuổi ông rời quê đi lập nghiệp nơi khác rồi biệt tích, nhưng đã để lại bút tích gia phả (sao chuyển năm Tân Tỵ 1821) – cơ sở để họ tộc dựng lại gia phả sau này.
Thời kỳ ổn định (1846 – 1915)

Sau hơn 120 năm, đến đời thứ mười, ông Lê Văn Hạ kết duyên với bà Nguyễn Thị Vĩ, sinh được hai con trai là Lê Văn Tô và Lê Văn Đô – xoá được cảnh “một nhánh một đinh” của chín đời trước.
Thời kỳ phân chi nhánh (từ 1916)

Khoảng năm 1916, nhân khẩu và số đầu đinh tăng, họ tộc phân chia thành các nhánh: nhánh tộc trưởng (ông Lê Văn Hiếu, đời 12) và nhánh thứ (ông Lê Văn Hào, đời 12). Từ đời 13 các nhánh tiếp tục chia thành các chi. Con cháu nhiều người tham gia kháng chiến, là đảng viên, cán bộ, bộ đội, thương binh, liệt sĩ; nhiều gia đình đã lập nghiệp ở khắp mọi miền đất nước.
Gia phả được giữ gìn qua nhiều đời

Bản gốc gia phả được sao chép lại nhiều lần. Năm Đinh Dậu 1957, tộc trưởng Lê Văn Minh (Lê Văn Tố), đời 14, nhờ cụ Võ Đình Điện làng Thuỷ Triều dịch sang chữ quốc ngữ và bổ sung. Năm 1977 – 1978 tộc trưởng Lê Văn Át (Cát), đời 15, chép lại và bổ sung, tiếp tục bổ sung năm 1998 – 1999. Rằm tháng Bảy năm Quý Mùi 2003, họ tộc giao ông Lê Văn Hảo, đời 15, sưu tầm, bổ sung và biên soạn thành gia phả thống nhất.
Do sao lưu qua nhiều đời, nhiều bút tích, nhất là bản dịch từ chữ Hán, không tránh khỏi sai sót. Mong anh em con cháu các thế hệ phát hiện, bổ cứu và cập nhật hằng năm – nay có thể gửi trực tiếp trên trang này.